Tìm kiếm
Một chuyên trang của Tuổi Trẻ Online TUỔI TRẺ Online Trang nhất Tư vấn Kinh nghiệm Thời sự Hướng nghiệp Cuộc thi
  Việc làm Online

Quy định về nghỉ không lương?

TTO - * Tôi làm việc cho một công ty nước ngoài. Nay công ty muốn cho nghỉ việc một nhân viên cũ đã nghỉ việc không lương tính đến nay là 1 năm 3 tháng.  Việc thỏa thuận nghỉ không lương của nhân viên thực hiện với giám đốc trước của công ty (thỏa thuận miệng hoặc email không chính thức vì không có văn bản lưu).

Hiện nay nhân viên từ chối cung cấp email liên quan. Xin hỏi: 1. Nhân viên nghỉ không lương như trên có hợp pháp không? Giám đốc trước cho nghỉ như vậy có hợp pháp không? Nếu một, hai nhân viên khác làm chứng việc thỏa thuận miệng trên là sự thật thì có được công nhận không?

2. Chúng tôi cho thôi việc nhân viên vì hiện tại công ty khó khăn, nhân lực đã đủ, mặt khác nghỉ việc hơn 1 năm là quá lâu. Xin hỏi những lý do trên có hợp pháp không?

3. Công ty tôi sẽ ra quyết định cho thôi việc ngày 7-9-2009, theo luật phải báo trước 30 ngày, vậy nhân viên sẽ chính thức nghỉ từ 7-10-2009 dù đồng ý hay không. Theo quy định, trợ cấp thôi việc căn cứ trên mức lương trung bình 6 tháng liền kề khi sự việc diễn ra, xin hỏi trường hợp này sẽ là từ tháng 4 đến tháng 9-2009 (lúc này không có lương, trợ cấp = 0) hay là 6 tháng từ lúc nhân viên nghỉ không lương tính ngược về trước? Xin cảm ơn!

(Vi Pham)

- Điều 79 Bộ luật lao động (BLLĐ) quy định người lao động (NLĐ) có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động (NSDLĐ) để nghỉ không hưởng lương. Theo đó, luật không điều chỉnh cụ thể việc nghỉ không lương cũng như thời gian nghỉ không lương, thời gian này hoàn toàn phụ thuộc vào thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ. NLĐ nếu thỏa thuận được với NSDLĐ về việc nghỉ không lương thì vẫn có thể được nhận thưởng giống các nhân viên khác.

Nếu công ty bạn muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) với NLĐ đúng pháp luật thì phải đáp ứng đầy đủ các quy định tại điều 38 BLLĐ như sau:

1- NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong những trường hợp sau đây:

a) NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng (NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng là không hoàn thành định mức lao động hoặc nhiệm vụ được giao do yếu tố chủ quan và bị lập biên bản hoặc nhắc nhở bằng văn bản ít nhất hai lần trong một tháng, mà sau đó vẫn không khắc phục. Mức độ không hoàn thành công việc được ghi trong HĐLĐ, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động của đơn vị).

b) NLĐ bị xử lý kỷ luật sa thải.

c) NLĐ làm theo HĐLĐ không xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 12 tháng liền, NLĐ làm theo HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng ốm đau đã điều trị sáu tháng liền và NLĐ làm theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn HĐLĐ mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của NLĐ bình phục thì được xem xét để giao kết tiếp HĐLĐ.

d) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ mà NSDLĐ đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc (lý do bất khả kháng khác là trường hợp do yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ cấp tỉnh trở lên, do địch họa, do dịch bệnh không thể khắc phục được dẫn tới việc phải thay đổi, thu hẹp sản xuất kinh doanh).

đ) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động.

2- Trước khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo các điểm a, b và c khoản 1 nêu trên, NSDLĐ phải trao đổi, nhất trí với ban chấp hành công đoàn cơ sở. Trong trường hợp không nhất trí, hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Sau 30 ngày kể từ ngày báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương biết, NSDLĐ mới có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trường hợp không nhất trí với quyết định của NSDLĐ, ban chấp hành công đoàn cơ sở và NLĐ có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định.

3- Khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 nêu trên, NSDLĐ phải báo cho NLĐ biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với HĐLĐ không xác định thời hạn.

b) Ít nhất 30 ngày đối với HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Ít nhất ba ngày đối với HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Về vấn đề trả trợ cấp thôi việc: khoản 1 điều 42 BLLĐ quy định khi chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ một năm trở lên, NSDLĐ có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương nếu có.

Khoản 2 điều 41 nghị định 127/2008/NĐ-CP ngày 12-12-2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp quy định: thời gian NLĐ thực tế làm việc theo các bản HĐLĐ, hợp đồng làm việc với NSDLĐ mà không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp thì được tính để xét hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật lao động hiện hành hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Căn cứ vào các quy định nêu trên, khi nghỉ việc hợp pháp NLĐ được nhận trợ cấp thôi việc tính đến hết tháng 12-2008. Thời gian làm việc từ tháng 1-2009 được tính hưởng theo trợ cấp thất nghiệp nếu có đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Luật sư TỐNG VĨNH ĐỨC
(Văn phòng luật sư Gia Khương)

           

     Bức tranh chưa khởi sắc của xuất khẩu lao động  - (04/09)
     Xin việc khi đã có kinh nghiệm quản lý xưởng máy CNC? - (03/09)
     Các ngành dịch vụ, phục vụ thu hút lao động  - (03/09)
     Giải đáp thắc mắc về xuất khẩu lao động sang Úc - (02/09)
     Thỏa thuận lương tại công ty nước ngoài? - (01/09)
     Kéo việc gần hơn lao động tại chỗ - (01/09)
     Lâm Đồng: nhu cầu tuyển dụng tăng - (01/09)
     Hà Tĩnh: gần 1.600 lao động đi XKLĐ về nước trước hạn - (01/09)
     Khởi nghiệp với gốm Bàu Trúc - (31/08)
     Lao động nữ vẫn còn nhiều thiệt thòi - (30/08)
Ngành:
Tỉnh/Thành Phố:
Nhận Bản Tin Việc Làm
Đăng ký để nhận bản tin về những cơ hội việc làm mới nhất.
Thăm dò ý kiến
  Theo bạn, so với nam giới, độ tuổi về hưu của nữ nên:
Nghỉ hưu trước nam giới 5 năm
Nghỉ hưu trước nam giới 10 năm
Bằng với tuổi nghỉ hưu của nam giới
Bằng tuổi nghỉ hưu của nam, nhưng nếu có nhu cầu, có thể nghỉ trước nam 1-5 năm mà vẫn hưởng nguyên chế độ
     
Bản quyền © 2003 - 2010 Tuổi Trẻ Font Unicode |  Quảng Cáo |  Đặt Báo |  Hướng Dẫn |  Liên Hệ Phát triển bởi Moore Corp.